TỪ NGÀY 18/05, PHẠT TIỀN TỐI ĐA 20.000.000 ĐỒNG VỚI HÀNH VI MANG THAI HỘ

Cụ thể, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, sinh sản vô tính, mang thai hộ vì mục đích thương mại. Đây là nội dung được nêu trong Nghị định 109/2026/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phục hồi và phá sản. Quy định có hiệu lực từ 18/05, thay thế Nghị định 82/2020/NĐ-CP.

Nghị định 109/2026 được ban hành trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính ngày càng trở nên cấp thiết, đặc biệt trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình – nơi các quan hệ pháp lý không chỉ mang tính cá nhân mà còn gắn chặt với trật tự xã hội và đạo đức cộng đồng. So với các quy định trước đây, đặc biệt là Nghị định năm 2020, văn bản mới này thể hiện rõ xu hướng siết chặt chế tài, xử phạt hành chính nặng hơn đối với các hành vi vi phạm nhằm khắc phục những bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật trên thực tế.

Xử phạt tối đa 10 triệu đồng với hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng

Đối với hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, Nghị định 109/2026 đã có sự điều chỉnh đáng kể theo hướng tăng nặng chế tài xử phạt. Cụ thể, nếu như trước đây mức phạt chỉ dao động từ 3 đến 5 triệu đồng thì nay đã được nâng lên từ 5 đến 10 triệu đồng.

(Ảnh minh họa)

Sự thay đổi này không đơn thuần là điều chỉnh về mặt con số, mà phản ánh rõ quan điểm của nhà làm luật trong việc siết chặt kỷ cương pháp lý đối với các quan hệ hôn nhân. Trong thực tiễn, hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng không chỉ xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người còn lại trong quan hệ hôn nhân, mà còn kéo theo nhiều hệ lụy xã hội như tranh chấp tài sản, mâu thuẫn gia đình, ảnh hưởng đến tâm lý và sự phát triển của con cái.

Cụ thể, các hành vi sau sẽ thuộc mức xử phạt trên:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ.

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác.

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ.

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

đ) Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.

Mức phạt đối với các hành vi khác vẫn giữ nguyên như quy định tại Nghị định 82/2020.

Như nào là chung sống như vợ chồng

Luật Hôn nhân và Gia đình định nghĩa, “chung sống như vợ chồng” là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng.

Hiện chưa có văn bản hướng dẫn khái niệm này, song trong Thông tư liên tịch 01/2001 giữa Bộ Tư pháp, Bộ Công an, TAND Tối cao và VKSND Tối cao, chung sống như vợ chồng là việc hai người nam và nữ tổ chức lễ cưới hoặc về chung sống với nhau được gia đình chấp nhận, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình,… nhưng không đăng ký kết hôn.

HƯỚNG DẪN: Thủ tục đăng ký kết hôn

Chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn (Ảnh minh họa)

Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có quan hệ thân mật, công khai; được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng; có con chung hay tài sản chung trong thời kỳ chung sống;…

Xử phạt tối đa 20 triệu đồng với hành vi thực hiện sinh sản có tính chất thương mại

Hành vi mang thai hộ hoặc thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm và sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Mức xử phạt này đã được điều chỉnh tăng lên, thể hiện xu hướng siết chặt quản lý của Nhà nước đối với các hành vi lợi dụng hoạt động sinh sản vì mục đích trục lợi.

Is Myo-Inositol Safe to Take During Pregnancy? - Fertility Family

Mang thai hộ hay thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại bị xử phạt nặng (Ảnh minh họa)

Cần lưu ý rằng, pháp luật Việt Nam không cấm hoàn toàn việc mang thai hộ, nhưng chỉ cho phép trong trường hợp vì mục đích nhân đạo và phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện chặt chẽ theo quy định. Ngược lại, mọi hành vi mang thai hộ có yếu tố thỏa thuận về tiền bạc, lợi ích vật chất hoặc thông qua trung gian môi giới đều bị coi là vi phạm. Trong một số trường hợp nghiêm trọng, đặc biệt khi có dấu hiệu tổ chức, môi giới hoặc thu lợi bất chính, cá nhân, tổ chức liên quan còn có thể bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Như nào là mang thai hộ vì mục đích thương mại và sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Theo khoản 21 Điều 3 Luật Hôn Nhân và Gia đình năm 2014, “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm”. Còn mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác.

Các biện pháp khắc phục hậu quả cũng được bổ sung cụ thể hơn trong Nghị định 109/2026. Với hành vi vi phạm quy định về đăng ký kết hôn và cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, ngoài việc kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét, xử lý giấy chứng nhận kết hôn đã cấp, người có hành vi sai phạm phải buộc nộp lại bản chính giấy tờ, văn bản bị sửa chữa làm sai lệch cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

 

📞 THÔNG TIN LIÊN HỆ CHÍNH THỨC

CÔNG TY LUẬT TNHH HIỀN PHÚC HÀ NỘI;

📍 Địa chỉ trụ sở: Thôn 2, xã Nam Phù, thành phố Hà Nội
📍 Địa chỉ giao dịch: P428 – VP3, Bán đảo Linh Đàm, Hoàng Liệt, Hà Nội
📞 Hotline tư vấn pháp lý: 0962 282 418
Email: hienphuchn@gmail.com;

🌐 Website: hienphuclaw.com;

Tiktok: https://www.tiktok.com/@luatsu.hien?

Bài viết liên quan

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *