CÓ PHẢI NGƯỜI CON DÂU ĐÃ VI PHẠM PHÁP LUẬT KHI ĐĂNG TẢI VIDEO GIA ĐÌNH LÊN MẠNG XÃ HỘI

GÓC NHÌN PHÁP LÝ VỀ VIỆC TRÍCH XUẤT CAMERA GIA ĐÌNH VÀ ĐĂNG TẢI LÊN MẠNG XÃ HỘI – (TRANH CÃI LIÊN QUAN ĐẾN VIDEO CÔ CON DÂU ĐĂNG TẢI)

TRÍCH XUẤT CAMERA GIA ĐÌNH VÀ ĐĂNG TẢI LÊN MẠNG XÃ HỘI ĐỂ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA MÌNH CÓ VI PHẠM PHÁP LUẬT KHÔNG?

    Thời gian gần đây, trên mạng xã hội lan truyền các video ghi lại cảnh mẹ chồng, chồng và các thành viên trong gia đình chồng có lời nói, hành vi xúc phạm, đuổi con dâu ra khỏi nhà khi cô đang ôm con nhỏ. Sự việc nhanh chóng thu hút sự quan tâm của dư luận và làm dấy lên nhiều luồng ý kiến trái chiều về trách nhiệm pháp lý của các bên liên quan.

    Không ít người bày tỏ sự bức xúc trước hành vi ứng xử trong gia đình; trong khi đó, cũng có ý kiến cho rằng “Gia đình bố mẹ chồng có thể kiện người con dâu trích xuất camera gia đình và đăng tải lên mạng là vi phạm pháp luật”. Để đánh giá chính xác, cần phân tích đầy đủ các yếu tố liên quan như nguồn gốc dữ liệu, không gian ghi hình, nội dung thể hiện, mục đích đăng tải và hậu quả thực tế phát sinh.

GÓC NHÌN PHÁP LÝ

Dưới góc độ pháp lý, vấn đề này cần được nhìn nhận một cách toàn diện, khách quan và căn cứ vào quy định pháp luật hiện hành. Việc chỉ nhìn vào hành vi “đăng tải video” mà bỏ qua bối cảnh xảy ra sự việc, tính chất hành vi bị ghi lại và quyền, lợi ích hợp pháp của người đăng tải là cách tiếp cận thiếu cân bằng và không phù hợp với tinh thần của pháp luật dân sự cũng như pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.

1. Camera được lắp đặt trong không gian sinh hoạt chung của gia đình, không phải khu vực cấm ghi hình theo quy định pháp luật.

    Không gian sinh hoạt chung trong gia đình về nguyên tắc không phải là địa điểm thuộc danh mục cấm ghi âm, ghi hình theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Việc lắp đặt camera trong gia đình hiện nay khá phổ biến nhằm mục đích bảo đảm an ninh, quản lý tài sản và bảo vệ các thành viên.

Nhiều nhà lắp camera trong nhà với mục đích quản lý tài sản của gia đình cũng như đảm bảo an ninh

    Việc trích xuất dữ liệu từ camera gia đình không bị pháp luật cấm nếu không cài đặt trái phép và không xâm phạm bí mật đời sống riêng tư đặc biệt được bảo vệ. Nói cách khác, nếu hệ thống camera được lắp đặt hợp pháp, người trích xuất có quyền quản lý hoặc quyền tiếp cận dữ liệu, và việc khai thác dữ liệu không nhằm vào những nội dung thuộc phạm vi bí mật riêng tư đặc biệt thì hành vi trích xuất tự thân không cấu thành vi phạm.

2. Nội dung các video thể hiện hành vi ứng xử công khai giữa nhiều người, không phải thông tin riêng tư mang tính kín đáo:

    Qua các video được đăng tải có thể thấy: 

  • Nội dung không phải là sinh hoạt cá nhân kín đáo, bí mật đời sống vợ chồng;

  • Các lời nói, hành vi “dạy dỗ con dâu”, yêu cầu chấp nhận việc chồng có người thứ ba, đuổi ra khỏi nhà… đều diễn ra: trước mặt nhiều người lớn trong gia đình; có sự tham gia đồng thời của mẹ chồng, bố chồng, chồng; có cả người giúp việc chứng kiến.

  • Một số video còn thể hiện việc mẹ chồng chủ động gọi điện cho thông gia để yêu cầu đón con gái về, giữ cháu lại để ông bà nội nuôi;

  • Có video ghi nhận lời lẽ của bố chồng mang tính miệt thị như gọi con dâu là “quân nước lã”, yêu cầu ra khỏi nhà.

     Những tình huống này không phải là thông tin cá nhân mang tính bí mật, mà là: Hành vi giao tiếp, ứng xử được thể hiện công khai giữa nhiều chủ thể. Theo cách hiểu pháp lý, đây là các sự kiện xã hội có người chứng kiến, không còn nằm trong phạm vi đời sống riêng tư cần được “che chắn” theo Điều 38 Bộ luật Dân sự.

3. Kể cả trong trường hợp “là thông tin mang tính bí mật ” cũng vẫn loại trừ trường hợp luật có quy định khác:

   Theo Điều 38 Bộ luật dân sự 2015, quy định tại khoản 2 quy định việc thu thập, sử dụng, lưu trữ, công khai thông tin liên quan đến bí mật thành viên gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ các trường hợp luật có quy định khác”, như vậy thì kể cả trong trường hợp “thông tin liên quan đến bí mật ” cũng vẫn bị loại trừ khi có quy định khác, cụ thể: 

    Theo quy định Điều 86, Điều 87 BLTTHS năm 2015 , chứng cứ là những gì có thật, được sử dụng để xác định có hay không hành vi phạm tội, bao gồm cả dữ liệu điện tử, hình ảnh, âm thanh. Theo Điều 144 Bộ luật TTHS thì Cá nhân có quyền tố giác tội phạm và cung cấp tài liệu, hình ảnh, clip liên quan cho cơ quan có thẩm quyền.

Vì vậy, trong trường hợp có hành vi bạo lực gia đình, việc sử dụng video camera gia đình làm chứng cứ để tố cáo, cung cấp cho cơ quan chức năng là quyền được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

     Việc đăng tải hình ảnh chỉ bị coi là xâm phạm quyền riêng tư khi ghi lại nội dung mang tính riêng tư, kín đáo hoặc bị cắt ghép, xuyên tạc nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác.

    Nếu nội dung bị chỉnh sửa, dàn dựng, bóp méo sự thật hoặc cố ý khai thác những chi tiết thuộc phạm vi riêng tư không liên quan đến quyền tự bảo vệ thì khi đó mới có căn cứ xem xét trách nhiệm dân sự hoặc thậm chí trách nhiệm hình sự tùy tính chất, mức độ. Trong trường hợp video phản ánh đúng sự thật, không chỉnh sửa, không xuyên tạc và nhằm mục đích bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì không thể mặc nhiên kết luận là hành vi vi phạm pháp luật.

    Ngoài ra, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 quy định rõ hành vi bạo lực tinh thần là hành vi bị nghiêm cấm. Một vụ bạo lực gia đình diễn ra thường không chỉ giới hạn ở hành vi xâm hại thân thể mà còn bao gồm hành vi lăng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, cô lập, gây áp lực tâm lý hoặc xua đuổi thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp. Trong trường hợp đó, cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét trách nhiệm hành chính hoặc các biện pháp bảo vệ khẩn cấp theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Bạo lực gia đình còn bao gồm cả các hành vi gây tổn hại tâm lý như sỉ nhục, xúc phạm, cô lập (Ảnh minh họa)

    Pháp luật không chỉ xem xét hành vi đăng tải mà còn xem xét mục đích, hoàn cảnh và tính cần thiết của hành vi đó. Yếu tố mục đích là rất quan trọng: đăng tải để bôi nhọ, gây tổn hại uy tín người khác khác hoàn toàn với đăng tải để tự bảo vệ, tìm kiếm sự hỗ trợ hoặc làm chứng cứ phản ánh hành vi vi phạm.

    Trong trường hợp người con dâu là bên yếu thế, bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm và cần bảo vệ mình thì việc công khai sự việc có thể được xem xét trong bối cảnh tự bảo vệ quyền nhân thân. Đặc biệt khi hành vi bị ghi lại diễn ra trước mặt nhiều người trong gia đình, không phải là thông tin mang tính kín đáo thuần túy, thì việc công khai có thể được cân nhắc dưới góc độ bảo vệ người bị bạo lực.

KẾT LUẬN

    Việc các video ghi nhận sự việc diễn ra trước nhiều người, trong không gian sinh hoạt chung, với nội dung là cách ứng xử đối với một thành viên gia đình, không phải là thông tin riêng tư mang tính bí mật cá nhân.
    Do đó, không thể lấy lý do “xâm phạm đời sống riêng tư” để phủ nhận quyền của người bị tác động trong việc sử dụng những dữ liệu đó nhằm tự bảo vệ mình.

    Nếu gia đình bắt nạt con dâu khởi kiện cô con dâu về hành vi “công khai thông tin liên quan đến bí mật thành viên gia đình” thì Tòa án dân sự có thể bác đơn và có thể đề nghị cơ quan chức năng vào cuộc để điều tra, xem xét các dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự của các thành viên khác trong gia đình.

   Như vậy, Không có căn cứ kết luận người con dâu vi phạm pháp luật chỉ vì đăng tải video camera gia đình nếu nội dung phản ánh đúng sự thật với mục đích bảo vệ quyền nhân thân khi bị xúc phạm, bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Cô hoàn toàn có thể sử dụng tài liệu chứng cứ này để tố giác đối với hành vi bạo hành gia đình của các thành viên trong gia đình nhà chồng trong thời gian cô sinh sống tại đó. 

   📞 THÔNG TIN LIÊN HỆ CHÍNH THỨC

CÔNG TY LUẬT TNHH HIỀN PHÚC HÀ NỘI;

📍 Địa chỉ trụ sở: Thôn 2, xã Nam Phù, thành phố Hà Nội;

📍 Địa chỉ giao dịch: P428 – VP3, Bán đảo Linh Đàm, Hoàng Liệt, Hà Nội;

📞 Hotline tư vấn pháp lý: 0962 282 418/ 0989 936 675;

 Email: hienphuchn@gmail.com;

🌐Website: hienphuclaw.com;

🌐Tiktok: https://www.tiktok.com/@luatsu.hien?

Bài viết liên quan

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *