Di chúc hơp pháp là gì?
Di chúc là sự ghi lại ý chí, ý nguyện của một người về cách tài sản của người đó được định đoạt như thế nào sau khi người đó chết. Trong thực tế, không ít gia đình rơi vào cảnh tranh chấp gay gắt chỉ vì tài sản của người đã mất không được định đoạt rõ ràng. Chính vì vậy, việc lập di chúc không chỉ là quyền mà còn là một công cụ pháp lý quan trọng giúp mỗi người chủ động kiểm soát tài sản của mình, hạn chế mâu thuẫn và bảo vệ những người thân sau khi qua đời.

Di chúc là sự ghi lại ý chí của cà nhân về việc phân chia di sản của mình sau khi qua đời
Tuy nhiên, di chúc phải đúng với quy định của pháp luật mới có giá trị pháp lý thực tiễn, đảm bảo di sản người đã mất được chia theo đúng ý nguyện của họ. Vậy như nào là một di chúc hợp pháp?
I. Điều kiện hợp pháp của di chúc
Để đảm bảo có hiệu lực pháp luật khi mở thừa kế, di chúc phải phù hợp với quy định pháp luật về hình thức và nội dung. Ngoài ra, người lập di chúc phải đáp ứng các điều kiện về độ tuổi và sức khỏe tại thời điểm lập di chúc.
1. Về mặt hình thức
Pháp luật Việt Nam cho phép di chúc được lập dưới hai hình thức là di chúc miệng hoặc di chúc văn bản. Mỗi loại hình thức lại đi kèm với những điều kiện chặt chẽ nhằm đảm bảo tính minh bạch, tránh việc di chúc bị tác động hoặc giả mạo trái với ý chí người lập di chúc.
Trường hợp một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng. Sau 03 tháng kể từ thời điểm lập di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì bản di chúc miệng này mặc nhiên bị hủy bỏ.
Như vậy, di chúc miệng chỉ mang giải pháp tình thế, áp dụng trong những trường hợp ngặt nghèo. Để di chúc miệng có hiệu lực pháp lý, tại thời điểm người lập di chúc thể hiện ý chí cuối cùng của mình phải có ít nhất hai người làm chứng, ghi chép lại lời nói của người lập di chúc và cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày sau đó, bản ghi chép trên phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
Để tránh rủi ro pháp lý về tính xác thực của di chúc miệng, phần lớn mọi người sẽ chọn lập di chúc bằng văn bản. Cá nhân có thể tự lập di chúc bằng văn bản mà không có người làm chứng, tuy nhiên điều kiện tiên quyết là cá nhân này phải tự viết di chúc bằng chữ viết tay và ký vào di chúc. Nếu không tự viết được, có thể đánh máy hoặc nhờ người khác lập hộ di chúc, nhưng phải có ít nhất hai người làm chứng và sau khi lập di chúc, phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc và người làm chứng.

Di chúc bằng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn và được sử dụng rộng rãi
Cá nhân có quyền yêu cầu công chứng hoặc chứng thực di chúc để đảm bảo giá trị pháp lý ở mức cao, tránh việc gian lận, sửa đổi di chúc sau khi người lập di chúc qua đời. Người lập di chúc phải tự mình yêu cầu công chứng di chúc, không ủy quyền cho người khác. Trường hợp người lập di chúc bị cái chết đe dọa thì người yêu cầu công chứng có thể không cần xuất trình đủ giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật Công chứng nhưng phải ghi rõ trong văn bản công chứng.
Những người sau đây không được công chứng, chứng thực di chúc:
+ Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.
+ Người có cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.
+ Người có quyền, nghĩa vụ về tài sản liên quan tới nội dung di chúc.
2. Về mặt nội dung
Nội dung di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Ngoài ra, nội dung di chúc còn được quy định tại Bộ luật Dân sự 2015. Cụ thể như sau:
“Điều 631. Nội dung của di chúc
Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:
a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;
b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
d) Di sản để lại và nơi có di sản.
Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, di chúc có thể có các nội dung khác.
Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.
Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa”
Trường hợp nội dung di chúc không rõ ràng mà người lập di chúc đã qua đời, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau thì cần có sự giải thích di chúc. Theo đó, những người thừa kế theo di chúc sẽ cùng nhau giải thích nội dung di chúc, nếu không nhất trí về cách hiểu nội dung di chúc giữa những người thừa kế thì những người này có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Những người thừa kế cùng giải thích nội dung di chúc nếu cần thiết
3. Về điều kiện của người lập di chúc
Những người sau đây có quyền lập di chúc:
– Người thành niên minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
– Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc;
– Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực;
II. Người có tư cách làm chứng cho việc lập di chúc
Thông thường, khi lập di chúc sẽ có ít nhất 02 người làm chứng để đảm bảo tính xác thực và giá trị pháp lý của bản di chúc. Tuy nhiên không phải ai cũng có đủ tư cách để trở thành người làm chứng hợp lệ. Những người sau đây sẽ không được làm chứng cho di chúc:
– Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc
– Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.
– Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
III. Hiệu lực di chúc
Hiệu lực của di chúc là yếu tố quyết định việc ý chí của người để lại tài sản có được thực hiện hay không. Theo Điều 643 của Bộ luật Dân sự 2015, di chúc chỉ phát sinh hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế, tức là khi người lập di chúc qua đời. Tuy nhiên, không phải toàn bộ nội dung di chúc đều luôn có giá trị. Trong một số trường hợp, di chúc có thể bị vô hiệu toàn bộ hoặc một phần, chẳng hạn khi người thừa kế chết trước hoặc cùng thời điểm với người lập di chúc, hoặc cơ quan, tổ chức được chỉ định không còn tồn tại. Khi đó, chỉ phần nội dung liên quan sẽ bị vô hiệu, còn các phần khác vẫn được công nhận nếu không bị ảnh hưởng.
Bên cạnh đó, hiệu lực của di chúc còn phụ thuộc vào sự tồn tại của di sản tại thời điểm mở thừa kế; nếu tài sản không còn thì phần di chúc tương ứng cũng không có giá trị. Trường hợp di chúc có nội dung không hợp pháp nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại, thì chỉ phần vi phạm bị vô hiệu. Đặc biệt, nếu tồn tại nhiều bản di chúc đối với cùng một tài sản, thì bản di chúc sau cùng sẽ được ưu tiên áp dụng, thể hiện ý chí cuối cùng của người lập.
Luật sư Trần Thị Hiền- 0989 936 675.
📞 Liên hệ Công ty luật Hiền Phúc Hà Nội để được tư vấn
Hotline: 0962 282 418;
Địa chỉ giao dịch: P428-VP3, Bán đảo Linh Đàm, Hoàng Liệt, Hà Nội;
Email: hienphuchn@gmail.com.
