Thay Đổi Người Trực Tiếp Nuôi Con Sau Ly Hôn: Căn Cứ Và Thủ Tục Theo Luật Định

Các tranh chấp về quyền trực tiếp nuôi con sau ly hôn luôn là những vụ án để lại nhiều trăn trở. Ly hôn làm chấm dứt quan hệ hôn nhân, nhưng nghĩa vụ và tình cảm thiêng liêng đối với con cái thì không bao giờ thay đổi. Mặc dù quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con đã được quy định rõ trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014, nhưng quá trình áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp vẫn bộc lộ nhiều khó khăn.

Bài viết này đi sâu phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, từ đó đề xuất góc nhìn nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi chính đáng của trẻ em.

Quyền nuôi con khi ly hôn phụ thuộc chủ yếu vào lợi ích mọi mặt của con

Về quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Căn cứ khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ 2014 ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Khi giải quyết ly hôn, Tòa án sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng dựa trên sự thỏa thuận của cha mẹ hoặc căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của đứa trẻ (đặc biệt ưu tiên giao con dưới 36 tháng tuổi cho người mẹ, nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.). Người không trực tiếp nuôi con sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng và quyền thăm nom.

Luật quy định “con dưới 36 tháng tuổi giao cho mẹ” là một định hướng hợp lý của pháp luật nhằm bảo vệ sự phát triển sinh học và tâm lý của trẻ sơ sinh. Tuy nhiên trên thực tế không phải trường hợp nào người mẹ cũng mặc định được nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Án lệ số 54/2022/AL mang tinh thần: Nếu người mẹ tự ý bỏ đi khi con còn rất nhỏ và không quan tâm chăm sóc, Tòa án có thể giao con cho cha tiêp tục chăm sóc.

Yếu tố bỏ đi trong trường hợp này cần được đánh giá kỹ lưỡng. Nếu người mẹ tự ý bỏ đi trốn tránh trách nhiệm, việc áp dụng Án lệ 54/2022/AL là hoàn toàn chính xác. Nhưng nếu người mẹ bị bạo hành, bị gia đình chồng xua đuổi, đe dọa đến mức phải lánh nạn và bị cản trở quyền thăm nom, thì Tòa án không thể máy móc tước quyền của người mẹ. Trong những trường hợp này, cần xem xét nguyên nhân gốc rễ và đánh giá điều kiện chăm sóc toàn diện để ra phán quyết công tâm.

Tuy nhiên, quyết định về quyền được nuôi con của Tòa án không phải là không thể thay đổi. Theo Điều 84 Luật HN&GĐ 2014, pháp luật cho phép cha, mẹ không trực tiếp nuôi con yêu cầu Tòa án giao lại quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cho mình khi có những căn cứ hợp pháp. Mục đích của quy định này không phải là để thỏa mãn sự hơn thua giữa những người trưởng thành, mà là để kịp thời can thiệp, đảm bảo đứa trẻ luôn được sống trong môi trường tốt nhất.

Xem thêm: Thủ tục giấy tờ cần chuẩn bị khi ly hôn

Ai có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn?

Bên cạnh cha hoặc mẹ (người không trực tiếp nuôi con), để tạo một sự bảo vệ toàn diện cho trẻ, Điều 84 Luật HN&GĐ 2014 đã mở rộng diện chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, bao gồm:

  • Người thân thích: Anh, chị ruột đã thành niên; ông bà nội/ngoại; cô, dì, chú, bác, cậu ruột.
  • Cơ quan quản lý nhà nước: Cơ quan quản lý về gia đình và trẻ em (Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Văn hóa…).
  • Hội Liên hiệp Phụ nữ: Tổ chức đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em.

*Lưu ý: Các cá nhân, cơ quan, tổ chức này chỉ được quyền yêu cầu thay đổi khi có căn cứ chứng minh người đang trực tiếp nuôi con vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của mình, không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, làm ảnh hưởng đến lợi ích của trẻ.

Thay đổi người trực tiếp chăm sóc để đảm bảo lợi ích tốt nhất cho con

Căn cứ yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Việc thay đổi người nuôi dưỡng chỉ được Tòa án chấp thuận khi thỏa mãn một trong các căn cứ sau:

  • Thứ nhất, có sự thỏa thuận của cha mẹ: Hai bên tự nguyện điều chỉnh người nuôi dưỡng để phù hợp với hoàn cảnh mới, miễn là sự thỏa thuận đó mang lại lợi ích thiết thực cho con.
  • Thứ hai, người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện: Đây là căn cứ phát sinh tranh chấp nhiều nhất. Người khởi kiện phải chứng minh người đang nuôi con sa sút trầm trọng về điều kiện vật chất (không có thu nhập, không có chỗ ở) hoặc tinh thần (bỏ bê, bạo hành, sa vào tệ nạn…).
  • Thứ ba, xem xét nguyện vọng của con: Nếu trẻ từ đủ 07 tuổi trở lên, Tòa án bắt buộc phải lắng nghe ý kiến của trẻ để đánh giá xem trẻ thực sự mong muốn gắn bó với ai.

Bao nhiêu lâu sau khi có bản án thì được quyền khởi kiện thay đổi quyền nuôi con?

Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 không quy định bất kỳ giới hạn thời gian nào kể từ khi bản án ly hôn có hiệu lực đến khi được quyền khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Điều này có nghĩa là, quyền khởi kiện của đương sự không phụ thuộc vào yếu tố thời gian mà phụ thuộc hoàn toàn vào sự xuất hiện của các căn cứ mới phát sinh. Bất cứ lúc nào phát sinh các điều kiện theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, người không trực tiếp nuôi con đều có quyền nộp đơn ra Tòa án. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử, cần đặc biệt lưu ý các sự kiện sau để tránh việc đơn khởi kiện bị trả lại:

  • Trường hợp bản án chưa có hiệu lực pháp luật: Nếu bản án sơ thẩm vừa tuyên và vẫn đang trong thời hạn 15 ngày, đương sự không thực hiện việc khởi kiện vụ án mới mà phải thực hiện kháng cáo lên Tòa án cấp phúc thẩm để yêu cầu xem xét lại quyết định giao con.
  • Trường hợp có tình tiết mới: Ngay sau khi bản án có hiệu lực, nếu người đang trực tiếp nuôi con lập tức lâm vào hoàn cảnh đặc biệt nghiêm trọng (ví dụ: bị bắt giam, tai nạn mất khả năng lao động, có hành vi bạo hành con cái có xác nhận của cơ quan chức năng…), người còn lại có quyền làm đơn khởi kiện vụ án “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” ngay lập tức để bảo vệ sự an toàn và lợi ích tốt nhất cho trẻ.
  • Trường hợp hoàn cảnh các bên không có gì thay đổi: Theo điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện đối với sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, nếu vừa có bản án mà đương sự lập tức nộp đơn kiện đòi lại con nhưng không cung cấp được bất kỳ chứng cứ mới so với thời điểm Tòa tuyên án, Tòa án sẽ từ chối thụ lý.

Tóm lại, chỉ khi bạn thu thập được những chứng cứ mới chứng minh người đang trực tiếp nuôi con không còn đủ khả năng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì Tòa án mới xem xét việc thay đổi quyền nuôi con!

       Tác giả: Nguyễn Chí Lâm- Nhân viên tập sự Công ty luật Hiền Phúc Hà Nội

 

Xem thêm: Phiên tòa giữa Tình, Tiền và Nước mắt

Bài viết liên quan

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *